Bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu

Bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu

Chuyên mục: Bài viết tiếng Anh hay | 08/03/2017

Bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu sẽ giúp bạn hoàn thành bài viết tiếng Anh trong các kì thi hoặc bài nói thuyết trình bằng tiếng Anh tốt nhất

                 Bạn đang tìm bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu phải không? Hãy tham khảo 2 bài mẫu này của chúng tôi dưới đây, có thể giúp bạn trình bày bài nói hoặc bài viết tiếng Anh hay.

=> Bài luận tiếng Anh về việc xem tivi hay nhất

=> Bài viết tiếng Anh về thực đơn hằng ngày

=> Các bài luận tiếng Anh mẫu thi THPT Quốc gia

Bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu

1. Bài luận tiếng Anh thứ nhất: Phong tục tập quán ngày tết của Việt Nam

Vietnam is a country that has thousands of years of history. Like many other countries in the world, Vietnam has a culture of its own identity that carries the most typical is the Lunar New Year. It is these features that make manners, shape and identity of the people in Vietnam.

Phong tục tập quán ngày tết của Việt Nam

          Lunar New Year is the most important occasion in Vietnam. Lunar New Year, according to the Vietnamese called Tet Nguyen Dan. "Nguyen" is to start, "Dan" is a new day. "Tet Nguyen Dan" is to start a new year, to welcome Spring with everything in its newest appearance. A new year comes with goodluck and in the mean time, all of the badluck will be gone, together with the passed year. "Tet Ta" (Lunar new year) is affected by Chinese Lunar New Year and East Asia Traditional Circle so that "Tet Ta" comes after New Years Eve. According to the old rule: 3 even years/a month of the Lunar Calendar, so the first day of the year is never before Jan 21st or after Feb 19th. Normally, this day will come from about the end of Jan to mid of Feb. The Lunar New Year lasts for 7-8 days of the passed year and 7 days of the new year.

According to East Asian culture and history of China, the origin of Lunar New Year from Three Sovereigns and Five Emperors and change from time to time. According to folk beliefs, the New Year started from the concept "Thankfully the rain to sunshine", as well as originating from "tiet" (weather) upon under the operation of the universe, expressed in the cycle times the Spring - Summer - Fall - Winter, which, with a very special meaning for an agricultural country like Vietnam. Farmers for this is the occasion to commemorate the gods are related to agricultural land as the god of rain, thunder god, the god of water ... Farmers do not forget to thank the animals which help them farm work like cattle,  poultry and they also thank others food crops, food to feed them.

The Vietnamese concept that everything in Lunar New Year must be very new and soon. So before Tet more than 2 weeks, the family prepare to celebrate.  They are usually cleaning, decorating their house with apricot blossom, peach blossom, kumquat, couplets or festival painting. Preparation-work for the day of the Vietnamese New Year usually starts from December 23, the day that the Vietnamese dedicate Kitchen God. Some rural families still keep the tradition planting named “Neu”, while in the city, this custom has been forgotten. According to tradition, the tree is raised up against the devil and the ominous. the tree is often referred to hang or decorate what is considered to scare the devil as: garlic, cactus, effigies and Pandan. Before Tet, the Vietnamese also prepare chung cakes , day cake and hearty dishes to dedicate to their ancestors.

        New Year's Day may be the 30th December (for full year) or December 29 (for shortage year). This day family reunion dinner together for the New Year. Between the 30th (or 29th) of December and 1 January, is the most important moment of the festival.It marked the transfer of the old year and new year, called Eve (Giao Thua). In recognition of this moment, people often make two trays. A tray of worship to ancestors at the altar in his house and a tray of worship Heaven and Earth in the front yard. Arrangements the altar of Vietnamese families usually have an altar ancestors, grandparents.The decoration and altar arrangements vary according to each house. However, on the altar every home always display two cane on either side as to the instrument for carrying on with the grandchildren and leading spirits from the sky on the lower boundary. At the same time on the altar also has a tray of five fruits expressed desire of the owner by the name, colours and their arrangement.

           In addition, during public holidays are also customary forth. Many people view A day "opened" a new year. They said that on this day, if all goes smoothly, good luck for the whole year, would also be good, convenient. Right after the countdown time, anyone who steps outside into the home with new year wishes are considered to have stormed the land for their home. Moreover, referring to the lunar new year, people cannot help mentioning the continuing exodus, picking fortune, burn votive, congratulated, visiting, receiving lucky money, etc. All this rules are expressed wishes of the people of a prosperous new year, families are healthy, well off, warmth.

         And indispensable in the New Year is the traditional dish. First to mention are chung cake, day cake associated with the legend of the same name. The legend tells that King Hung Vuong sixth looking for some twenty sons, one who truly virtuous to the throne should have the conditions: not necessarily the eldest son, who gratify the first king ceremony will be hereditary. The prince racing festival truly post-shopping, delicious. Lang Lieu, the son of the eighteenth, very sad for the poor, only grown accustomed to potatoes, rice, do not know where to get the ceremony delicacies like the other prince. After a night's dream, a hint gods, he took his sticky rice, green beans and pork buns in two things, the type of round, square type for father. King find delicious cakes, again express profound meaning he should take two bread ceremony Heaven, Earth and First King ceremonies, naming round cake is day cake, square cake is chung cake and throne to Lang Lieu. Since then, the chung cakes, day cakes worship ancestors become indispensable traditions of Vietnam's Tet.

Phong tục tập quán ngày tết của Việt Nam

         The legend of chưng cake symbolizes conception of the universe of ancient Vietnamese people, while emphasizing the importance of rice and natural rice culture. The legend above want to remind children about the tradition of filial piety, respects; explanation of the meaning and origins of the Earth Cake. This is the beauty of the traditional culture of the nation.

          One of the traditional dishes of ethnic is jam. The jam trays is not only delicious by the appearance but also carry different meanings. Whether it's somewhere in the world, the familiar images such as twigs yellow apricot, green chung cakes, red couplets, jam tray Festival, ... every time be mentioned that the Vietnamese to think of the New Year in hometown . Probably just about every spring, the Festival jam tray becomes sweet, meaningful. At Tet, almost every family put on their table all kinds of candies, jams Festival. First is to inviting guests , then the whole family to gather together and enjoy. Many kind of jam are put on the same tray is meant desired harmony, reunion.

For every country, in every period of history, culture, national traditions and language is the foundation of the social spirit, the motivation and goals of development, soul, strength life of the nation, that nation. Therefore, the preservation and promotion of cultural identity, national traditions play a very important role in the construction and development of the country. Through the customary of New Year's Day, the more we love hometown, country, Vietnamese people, saying to myself will try to study and train hard to preserve, promote and introduce the definition nice to her friends in the world.

Bản dịch:

Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng mà tiêu biểu nhất là Tết Nguyên Đán. Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Tết Nguyên Đán là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam. Nguyên là bắt đầu, Ðán là buổi sớm mai. Tết Nguyên Ðán tức là Tết bắt đầu năm, mở đầu một năm mới với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang. Năm mới đến, những sự may mắn mới cũng đến và bao nhiêu điều đen đủi không may của năm cũ đều theo năm cũ mà hết. Tết Ta theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung HoaVòng văn hóa Đông Á, nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).  Theo Văn hóa Đông Álịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Còn theo tín ngưỡng dân gian, Tết bắt đầu từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì”, cũng do xuất xứ từ "tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, điều đó, có ý nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta. Người nông dân cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước... Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đã nuôi sống họ.

Người Việt Nam quan niệm rằng ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới. Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn và trang trí nhà cửa bằng cành mai, cành đào, cây quất hay những câu đối hoặc tranh tết.

Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên. Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở. Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa. Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh dày và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.   

Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Sắp dọn bàn thờ trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà. Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Tuy nhiên, trên bàn thờ mỗi nhà luôn bày hai cây mía ở hai bên như để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới. Đồng thời trên bàn thờ cũng có một mâm ngũ quả thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.

Ngoài ra, trong dịp lễ Tết còn có phong tục xông đất. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một "khai trương" một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Hơn thế nữa, nhắc đến Tết, người ta không thể không nhắc đến các tục xuất hành, hái lộc, chúc tết, thăm viếng, mừng tuổi, hóa vàng,.... Tất cả các tục lệ lâu đời này đều thể hiện ước nguyện của mọi người về một năm mới an khang thịnh vượng, gia đình khỏe mạnh, sung túc, ấm no.

Và không thể thiếu trong dịp Tết là những món ăn truyền thống. Đầu tiên, có lẽ phải kể đến bánh chưng bánh dày gắn liền với sự tích cùng tên. Sự tích kể rằng: vua Hùng Vương thứ sáu muốn tìm trong số hai mươi người con trai một người thật tài đức để nối ngôi nên đã ra điều kiện: không nhất thiết là con trưởng, ai làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương sẽ được truyền ngôi. Các lang đua nhau sắm lễ thật hậu, thật ngon. Lang Liêu, người con trai thứ mười tám, rất buồn vì nhà nghèo, chỉ quen với việc trồng khoai trồng lúa, không biết lấy đâu ra của ngon vật lạ làm lễ như những lang khác. Sau một đêm nằm mộng, được một vị thần mách nước, chàng bèn lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, loại hình tròn, loại hình vuông dâng lên vua cha. Vua thấy bánh ngon, lại thể hiện được ý nghĩa sâu sắc nên lấy hai thứ bánh ấy lễ Trời, Đất và lễ Tiên vương, đặt tên bánh hình tròn là bánh dày, bánh hình vuông là bánh chưng và truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó, việc gói bánh chưng và bánh dày cúng lễ tổ tiên trở thành phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Việt Nam.

Sự tích Bánh Chưng, Bánh Dày tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước. Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống hiếu kính; lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng, Bánh Dày là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc.

Một trong những món ăn truyền thống khác của dân tộc là mứt. Khay mứt Tết không chỉ thơm ngon bởi hình thức bên ngoài mà mỗi một loại mứt đều mang một ý nghĩa khác nhau. Dù là ở đâu trên thế giới, những hình ảnh quen thuộc như cành mai vàng, bánh chưng xanh, câu đối đỏ, khay mứt Tết,…mỗi khi được nhắc đến là những người con đất Việt lại liên tưởng ngay đến ngày Tết quê hương.

Có lẽ chỉ mỗi dịp xuân về thì khay mứt Tết lại trở nên ngọt ngào, ý nghĩa. Ngày Tết, hầu như gia đình nào cũng bày trên bàn khách của mình đủ loại bánh kẹo, mứt Tết. Trước là để đãi khách đến chơi, sau là để cả nhà cùng quây quần bên nhau thưởng thức. Nhiều loại mứt được bày trên cùng 1 khay còn có ý nghĩa mong muốn sự hòa hợp, sum họp đoàn viên.

 Với mỗi quốc gia, trong mọi giai đoạn lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc và ngôn ngữ luôn là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu của sự phát triển, là linh hồn, sức sống của quốc gia, dân tộc đó. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Qua những phong tục tập quán ngày Tết, ta càng thêm yêu hơn quê hương, đất nước, con người Việt, tự nhủ với bản thân sẽ cố gắng học tập, rèn luyện chăm chỉ để giữ gìn, phát huy và giới thiệu những nét đẹp ấy tới bạn bè năm châu.

2. Bài luận tiếng Anh số 2

Phong tục tập quán một số dân tộc Việt Nam

The Culture of Vietnam is one of the oldest of such in the Southeast Asia region. Although Vietnam lies geographically in Southeast Asia, long periods of Chinese domination and influence has resulted in the emergence of many East Asian characteristics in Vietnamese culture, and generally Vietnam is said to be part of the East Asian cultural sphere, known widely as Chinese cultural sphere.

Despite considerable foreign influence, Vietnamese people have managed to retain many distinct native customs which have always played a vital role in daily Vietnamese life throughout the millennia. While Chinese culture has the largest foreign influence on traditional Vietnamese culture, there is also a much smaller influence from the Cham and later Western cultures (most notably that of France, Russia and the United States).

In terms of prehistory, most Vietnamese historians consider the ancient Dong Son culture to be one of the defining aspects of early Vietnamese civilization.

The beauty of women dressed in ao dai always leaves a deep impression on foreign visitors to Vietnam. Girl students dressed in white long robes take to streets on the way to schools or back home, or gracefully sail on their bikes along streets. Female secretaries in delicate pastels greet you at an office door and older ladies in deep shades of purple, green or blue cut a striking pose at a restaurant dinner. The ao dai appears to flatter every figure.

Its body-hugging top flows over wide trousers that brush the floor. Splits in the gown extend well above waist height and make it comfortable and easy to move in. Although virtually the whole body is swathed in soft flowing fabric, these splits give the odd glimpse of a bare midriff, making the outfit very sensual.

Ao dai is made individually to fit each customer's shape to create the most graceful possible look. The pants should reach the soles of the feet and flow along the floor.

Comfortability is always taken into account for fashions and beauty. Tailoring must ensure the wearer's freedom of movements. Despite it is a long robe, ao dai must be cool to wear. Synthetic or silk fabrics are preferred as they do not crush and are quick drying, making the ao dai a practical uniform for daily wear.

The color is indicative of the wearer's age and status. Young girls wear pure white, fully-lined outfits symbolizing their purity. Older but unmarried girls move into soft pastel shades. Only married women wear ao dai in strong, rich colors, usually over white or black pants. However, ao dai is rarely seen in places where manual work is practiced. The nineties saw a real resurgence of ao dai. It has become standard and common attire for girl students as well as female staff at offices and hotels. Traditionally, ao dai has become the most preferred dress on formal occasions.

Early versions of the ao dai date back to 1744 when Lord Vu Vuong of the Nguyen Dynasty decreed both men and women should wear an ensemble of trousers and a gown that buttoned down the front. However, not until 1930 did ao dai appear partly similar to its look today. Vietnamese fashion designer-cum-tailor Cat Tuong, called as Monsieur Le Mur by the French at that time, lengthened the top so it reached the floor, fitted the bodice to the curves of the body, and moved the button line from the front to the left side of the body. Men wore it less, generally only on ceremonial occasions such as weddings or funerals. But it took another 20 years before the next major design change was incorporated and the modern ao dai emerged. During the 1950s two tailors in Saigon, Tran Kim of Thiet Lap shop and Dung of a tailoring shop of the same name, started producing ao dai with raglan sleeves. This creates a diagonal seam running from the collar to the underarm and this style is still preferred today.

Today, ao dai has been a bit modified. Its length is cut shorter usually just below the knee. Variations in the neck, between boat and mandarin style, are common and even adventurous alterations such as a low scooped neckline, puffed sleeves or off the shoulder designs are appearing as ladies experiment with fashion. Color patterns are no longer rigidly controlled and accesses to new fabrics have generated some dazzling results. However, most visitors to Vietnam have highly appreciated local tailors' skills when making ao dai. It is hard to think of a more elegant, demure and charming outfit, that suits Vietnamese women of different ages, than ao dai. Holidays or other Important Days

Vietnam celebrates many holidays, including traditional holidays which have been celebrated in Vietnam for thousands of years, along with modern holidays imported predominantly from western countries.

Among the traditional holidays, the two most important and widely celebrated are the Lunar new year (Tết), followed by the Mid-autumn lantern festival (Tết Trung Thu), although the latter has been losing ground in recent years.

Hy vọng 2 bài luận tiếng Anh về phong tục tập quán mẫu ở trên sẽ hữu ích cho bạn trong khi học tiếng Anh. Cảm ơn bạn đã đọc bài viết này và chúc bạn thành công!


Từ khóa Tags |
Chia sẻ
Chia sẻ